KTS. Lê Hữu Trúc
Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực cải cách, song hiện tại có thể nói chúng ta vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi tình trạng khan hiếm về nhà ở. Hậu quả của chế độ bao cấp nhà ở trước đây cộng với quá trình đô thị hoá chóng mặt tại các đô thị lớn như hiện nay khiến cho sự căng thẳng về nhà đất vẫn còn nguyên tính thời sự của nó. Khan hiếm về nhà ở và nhà ở chất lượng kém vẫn là vấn đề nổi cộm và bức xúc, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM. Chính vì vậy dù còn nhiều nhược điểm thì trong thời điểm hiện tại giải pháp nhà ở bình dân chia lô với quan điểm tự do xây dựng vẫn không thể loại bỏ mà còn phải nhìn nhận nó như một thực tại khách quan cần đầu tư nghiên cứu và phát triển đúng mức để góp phần tích cực giải toả bớt sức ép về nhà ở tại các đô thị lớn của chúng ta.
Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực cải cách, song hiện tại có thể nói chúng ta vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi tình trạng khan hiếm về nhà ở. Hậu quả của chế độ bao cấp nhà ở trước đây cộng với quá trình đô thị hoá chóng mặt tại các đô thị lớn như hiện nay khiến cho sự căng thẳng về nhà đất vẫn còn nguyên tính thời sự của nó. Khan hiếm về nhà ở và nhà ở chất lượng kém vẫn là vấn đề nổi cộm và bức xúc, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM. Chính vì vậy dù còn nhiều nhược điểm thì trong thời điểm hiện tại giải pháp nhà ở bình dân chia lô với quan điểm tự do xây dựng vẫn không thể loại bỏ mà còn phải nhìn nhận nó như một thực tại khách quan cần đầu tư nghiên cứu và phát triển đúng mức để góp phần tích cực giải toả bớt sức ép về nhà ở tại các đô thị lớn của chúng ta.
Những thành tựu trong lĩnh vực nhà ở những năm qua đã cho thấy đây không phải là một giải pháp xấu. Nó vẫn đang phát huy tác dụng và chắc chắn sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng lâu dài đến thị trường nhà đất của nước ta trong nhiều thập kỷ tới. Với chính sách này sự căng thẳng về nhà ở trong các đô thị đã dần được giải toả sau nhiều năm bao cấp, chỉ số m2 nhà ở trên đầu người không ngừng được tăng lên và chất lượng nhà ở cũng ngày càng được cải thiện. Nhà ở bình dân chia lô không những đã huy động và phát huy được tối đa nguồn lực sẵn có trong nhân dân mà với cách tổ chức sắp xếp, quy hoạch và hướng dẫn xây dựng hợp lý nó còn đáp ứng tốt những nhu cầu cơ bản nhất của con người về mặt vật chất và tinh thần. Đồng thời có thể giảm bớt và giải toả được sức ép cũng như gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế. Chính nó đã góp phần quan trọng trong việc hoạch định các chính sách về nhà ở của các thành phố trong những năm qua. Khẳng định phương châm của Chính phủ là “nhà nước và nhân dân cùng làm” góp phần tích cực phát huy sức mạnh tập thể, sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước.
Song đằng sau những ưu điểm nổi bật, nhà ở bình dân chia lô cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm như: lãng phí, manh mún, lộn xộn....từ đó kéo theo nhiều ý kiến phản đối. Các ý kiến đều tập trung cho rằng việc chia lô để người dân tự do xây dựng nhà ở không những sẽ làm hỗn loạn các hoạt động xây dựng, gây biến động cho thị trường nhà đất mà còn để lại cho bộ mặt đô thị những vết sẹo nham nhở cùng với sự lộn xộn thiếu đồng bộ, mất mỹ quan về quy hoạch, kiến trúc và cảnh quan môi trường. Không hoàn toàn phủ nhận những ý kiến này, song cần phải chấp nhận một thực tế là sự phát triển của bất cứ một loại hình kiến trúc nào, trong một thực thể đô thị luôn không ngừng biến đổi, đều phải trải qua những bước quá độ nhất định mà sự lộn xộn, chắp vá với những điều chưa ưng ý trong thời gian đầu dứt khoát phải xảy ra. Có thể khi phản đối một số chuyên gia chỉ đứng trên quan điểm thẩm mỹ đơn thuần để phán xét với cái nhìn có phần ảo tưởng rằng người dân đã và đang có đủ nhà để ở, nên áp đặt những tiêu chí, những công thức và cách làm theo tiêu chuẩn của những nước đã đô thị hoá trước chúng ta hàng thập kỷ. Trong khi thực tế tại các đô thị một bộ phận rất lớn nhân dân vẫn còn đang rất thiếu nhà ở, với chỉ số m2/đầu người so với các nước trong khu vực vẫn còn rất thấp. Đó là chưa kể đến những người nghèo, những người đang phải hàng ngày vật lộn kiếm sống với những công việc mưu sinh vất vả. Liệu họ có chấp nhận được những tiêu chuẩn ở mà chúng ta đưa ra hay không? Những khu chung cư, biệt thự mới xây với giá cả quá cao liệu có thực sự phù hợp với một cơ cấu dân cư phần lớn vẫn có thu nhập dưới mức trung bình, chưa kể đến những bất cập mà những khu ở kiểu này sẽ mang lại do thói quen, nếp sống, cũng như phương kế kiếm sống của người dân sẽ phải thay đổi nhiều và ngay cả khả năng tiếp cận của các hộ nghèo đối với các dịch vụ này cũng rất khó khăn. Hơn nữa cần có sự nhìn nhận lại vấn đề này một cách khách quan hơn vì rất có thể những bất cập của sự manh mún, lộn xộn nói trên lại bắt nguồn từ chính chúng ta - các KTS, với sự nghèo nàn về ý tưởng biểu hiện, kèm theo một cơ chế quản lý vẫn còn quá yếu kém. Không nên tìm cách đổ hết lỗi lầm lên một loại hình ở vốn đã có nhiều ưu điểm và đang được đông đảo người dân ủng hộ.
Một quan niệm cũ vẫn còn tồn tại cho rằng người KTS phải đóng vai trò ông chủ, người hoạch định tối cao, người điều phối tất cả các nghành nghề tham gia xây dựng ở đô thị và nông thôn - quan niệm này ngày nay không còn hoàn toàn đúng nữa. Hiện tại đa số người nhìn nhận KTS không còn thích hợp để đóng vai trò duy nhất cho việc ra các quyết định thực sự. Cần xem xét kiến trúc trong bối cảnh chung, trong những mối liên hệ chung về xã hội, kinh tế và chính trị chứ không đơn thuần chỉ về mặt kỹ thuật - thẩm mỹ theo nghĩa hẹp của các KTS. Chỉ với cách suy nghĩ rộng mở đó các KTS mới có thể “tham gia và quyết định ở tất cả các cấp với tư cách những nhà chuyên môn”. Như là người phục vụ xã hội, các KTS cần mở rộng dịch vụ nghề nghiệp và tầm nhìn của mình, tích cực tham gia vào các cải cách xã hội với những hiểu biết cơ bản về xã hội, biết chia sẻ quyền lực và “tôn trọng nhân dân”. Sứ mệnh căn bản của KTS là tạo dựng nhà ở, cung cấp chỗ nương thân cho mọi người trong đó có những người nghèo và những người vô gia cư. Những nghiên cứu, thiết kế và hướng dẫn xây dựng phải được ưu tiên hướng đến nhiệm vụ cao cả này.
Có thể thấy trong những năm qua nhà ở bình dân chia lô đã hiện diện như một thực tại khách quan, không thể loại bỏ mà chỉ có thể tác động vào nó, hướng nó theo những mục đích của chúng ta, để đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu của cuộc sống. Chúng ta phải chấp nhận nó, đương đầu với nó và tìm mọi cách để cải thiện nó vì cuộc sống của người dân, nhất là những người nghèo hơn là tìm mọi cách, mọi lý do để loại bỏ nó. Cuộc sống sẽ đặt ra cho chúng ta câu hỏi tại sao đa phần người dân nhất là một bộ phận đặc biệt của xã hội đô thị - những người nghèo và nhóm có thu nhập thấp lại bị loại ra khỏi khu vực này. Họ phải được đảm bảo bằng các chính sách cụ thể cái quyền rất chính đáng - quyền được có “nhà ở”, quyền được “xây tổ ấm”, được “riêng tư” với cái tôi “bản thể” có điều kiện tái lập và phát huy sau một thời gian dài đã từng bị hiểu lầm và xem nhẹ. Cần phải quan tâm đầu tư nghiên cứu nhiều hơn nữa cho khu vực nhà ở bình dân, với việc không chỉ tập trung vào bản thân nhà ở, mà quan trọng hơn là hiểu được cuộc sống và những vai trò của người dân trong đời sống đô thị. Chính bản thân người dân chứ không phải ai khác sẽ đi đến quyết định cuối cùng về việc người ta có được nhà ở như thế nào và Nhà nước cũng như các tổ chức nghề nghiệp hay KTS chúng ta nên hành động như một người trung gian tạo điều kiện để giúp đỡ người dân trong việc tự xây dựng nhà ở. Nhìn ra một số nước đang phát triển có điều kiện kinh tế xã hội tương đối giống Việt Nam cũng đang cho thấy một xu hướng phổ biến trong việc hình thành các chính sách về nhà ở đó là “chính phủ các nước cố gắng hạn chế tối đa sự can thiệp trực tiếp vào lĩnh vực nhà ở, giảm bớt sự bao cấp về nhà ở, chú ý nhiều hơn vào việc tăng cường hỗ trợ, tạo điều kiện để cho nhà ở khu vực tư nhân và khu vực bình dân phát triển trong khuôn khổ có sự điều tiết của chính phủ”(1). Đây là xu hướng khá phổ biến cho dù mỗi quốc gia đều có những đặc thù khác biệt.
Thực tế cuộc sống đang đòi hỏi chúng ta phải chuyên môn hoá, phải đồng bộ hoá và cũng đòi hỏi chúng ta phải xã hội hoá nữa, nhất là trong lĩnh vực kiến trúc và xây dựng. Vì có như vậy chúng ta mới phát huy được tối đa tiềm lực trí tuệ cũng như sức mạnh của toàn dân. Khi người dân kiểm soát được các quyết định chính và bản thân được tự do tham gia thiết kế, xây dựng, hay quản lý nhà ở của họ, thì cả quá trình đó và môi trường được sản sinh ra sẽ kích thích sự hào hứng và trách nhiệm của người dân trong xã hội. Còn ngược lại nếu người dân bị mất đi cái quyền kiểm soát này thì môi trường nhà ở có khả năng trở thành một vật cản cho sự phát triển cá nhân và là một gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế.
Cuộc sống đa dạng ở khắp nơi cũng luôn cho ta những bất ngờ thú vị bởi những thành phố tốt không phải chỉ do các nhà quy hoạch nghiên cứu, ngôi nhà ở tốt không hẳn đã là tác phẩm của những chuyên gia về nhà ở, và những nhà máy tốt chưa chắc đã là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế của các KTS công nghiệp v.v..Đôi khi đó là thành quả sáng tạo của các KTS “bình dân”, các nghệ sĩ dân gian, những chuyên gia trái ngành, hoặc thậm trí là sản phẩm độc đáo của một công dân tầm thường nào đó. Có thể là họ chưa hoàn toàn thông hiểu những đặc thù của công năng hay hình thức cụ thể này hay kia, nhưng bù lại ở họ có niềm đam mê và sự nhạy bén về một cuộc sống đa dạng đang từng ngày diễn ra. Nhà ở bình dân chia lô không những tỏ ra rất thích hợp với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn của nước ta mà còn đáp ứng được những nhu cầu về vật chất, tâm lý, tình cảm rất chính đáng của người dân. Nó phản ánh một nếp nghĩ, một nguyện vọng đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam đó là có được một ngôi nhà độc lập, tiện nghi nơi gắn bó lâu bền và là thành quả lao động xứng đáng do họ dày công vun đắp, xây dựng mà thành. Sẽ hạnh phúc và thú vị hơn rất nhiều khi mỗi người được sống trong căn nhà mà mỗi viên gạch, góc tường, hay ô cửa đều gắn liền với những kỷ niệm vui buồn, những thành công hay thất bại của từng thành viên trong gia đình. Nơi đây tồn tại và gắn kết nhiều thế hệ cùng chung sống với những thiết chế gia đình bền chặt. Hơn thế với loại hình nhà ở này những người dân nghèo một bộ phận không nhỏ trong xã hội của chúng ta có thể bắt đầu xây dựng ngôi nhà với những tiêu chuẩn thấp, rồi dần dần tự cải thiện và nâng cao chất lượng của nó theo thời gian để phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ.
Nhà ở bình dân chia lô cần được tiếp tục tồn tại, tiếp tục khẳng định vai trò không thể chối cãi của nó trong đời sống đô thị hiện đại. Không thể phê phán một cách cực đoan loại hình nhà ở này kể cả về kiến trúc và quy hoạch vì mỗi loại hình kiến trúc đều mang trong mình cả những ưu và khuyết điểm của nó mà nó trở nên tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào cách làm và thái độ ứng xử của chúng ta. Thực tế cũng cho thấy với cách quản lý và hướng dẫn xây dựng hợp lý chúng ta cũng đã có những dãy phố đẹp và hai trong số những di sản kiến trúc của chúng ta được thế giới ghi nhận và đánh giá cao là phố cổ Hội An và phố cổ Hà Nội cũng mang đậm dấu ấn của loại hình nhà ở này. Vấn đề là liều lượng, là thái độ ứng xử, là sự đầu tư nghiên cứu cũng như một cơ chế quản lý đúng đắn mà chúng ta dành cho nó. Trong quá trình tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước chắc chắn còn cần nhiều sự can thiệp, điều tiết, quản lý vĩ mô của Chính phủ, sự tư vấn, hướng dẫn của các tổ chức nghề nghiệp có liên quan để việc xây dựng loại hình nhà ở này dần đi vào trật tự, nề nếp, vừa đảm bảo được nhu cầu chính đáng về nhà ở của nhân dân vừa tạo được bộ mặt đô thị văn minh, sạch đẹp.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Trịnh Duy Luân- Vấn đề nhà ở trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ ba - NXB KHXH 1996

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét