Th.s.KTS Lê Hữu Trúc
“Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”
Ph.ăngghen.
Trong bài viết trước người viết đã có dịp được bày tỏ về những yếu kém trong công tác nghiên cứu lý luận và phê bình kiến trúc hiện nay, và còn xem sự yếu kém này là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến kiến trúc ngày một tụt hậu do phải thường xuyên hoạt động trong một trạng thái mò mẫm, thiếu hụt hẳn những cơ sở của lý thuyết và học thuật đi kèm. Nói như vậy, nhưng trong bối cảnh hiện tại, thì lý luận và phê bình kiến trúc cũng khó có thể làm được gì hơn thế, khi mà hầu hết các yếu tố cơ bản làm nền tảng cho nó cũng đang tồn tại với rất nhiều bất cập. Bất cập từ đội ngũ những người làm nghiên cứu lý luận ở ta vừa thiếu, yếu và không chuyên, bất cập từ cơ chế, chính sách và khả năng tập hợp các nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu lý luận, từ môi trường sáng tác thực tiễn, từ đào tạo, hành nghề, từ quan niệm của xã hội...
“Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”
Ph.ăngghen.
Trong bài viết trước người viết đã có dịp được bày tỏ về những yếu kém trong công tác nghiên cứu lý luận và phê bình kiến trúc hiện nay, và còn xem sự yếu kém này là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến kiến trúc ngày một tụt hậu do phải thường xuyên hoạt động trong một trạng thái mò mẫm, thiếu hụt hẳn những cơ sở của lý thuyết và học thuật đi kèm. Nói như vậy, nhưng trong bối cảnh hiện tại, thì lý luận và phê bình kiến trúc cũng khó có thể làm được gì hơn thế, khi mà hầu hết các yếu tố cơ bản làm nền tảng cho nó cũng đang tồn tại với rất nhiều bất cập. Bất cập từ đội ngũ những người làm nghiên cứu lý luận ở ta vừa thiếu, yếu và không chuyên, bất cập từ cơ chế, chính sách và khả năng tập hợp các nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu lý luận, từ môi trường sáng tác thực tiễn, từ đào tạo, hành nghề, từ quan niệm của xã hội...
Vậy nên, nếu không có những quyết tâm và thay đổi đặc biệt thì không thể hy vọng công tác nghiên cứu lý luận và phê bình kiến trúc ở ta thời gian tới sẽ khởi sắc. Cũng không thể hy vọng phê bình kiến trúc từ mai sẽ lại làm cho công chúng trở nên yêu thích và hiểu biết về nghệ thuật hơn, khi mà các cơ quan có trách nhiệm còn tiếp tục phớt lờ việc phổ cập kiến thức về mỹ thuật, về nghệ thuật đến người dân. Càng không thể hy vọng phê bình sẽ thúc đẩy được sáng tác, làm cho giới sáng tác đổi mới thực sự - trở nên chuyên nghiệp và bản lĩnh hơn ở tư cách người tự do sáng tạo - nếu như tự thân người làm nghề vẫn còn dị ứng trước các vấn đề lý thuyết, chưa xem lý luận kiến trúc như là một nguồn dinh dưỡng tối cần thiết cho công việc sáng tạo của mình, để vẫn việc ai người đó làm, đóng cửa, quay lưng không chịu đổi mới phương pháp, đổi mới cách nghĩ để cập nhật các lý thuyết nghệ thuật mới với các cơ sở học thuật có liên quan. Và cũng không thể giải quyết được vấn đề, nếu chúng ta cứ lần lữa không làm rõ được thế nào là “bác học, hàn lâm”, thế nào là “dân gian, bình dân”, và cuối cùng không thể để tình trạng cứ tiếp tục “ăn sống nuốt tươi” các hình mẫu ngoại nhập từ bên ngoài một cách sống sượng như những gì đang diễn ra.
Vậy nên hơn bao giờ hết, việc cần làm bây giờ là phải xây dựng được một hệ thống chuyên gia làm công việc thu thập, chọn lọc và xử lý thông tin. Những người có khả năng phê bình lý thuyết và kiến tạo lý thuyết. Thứ hai, cấn iếp tục đổi mới các sinh hoạt học thuật, không thể tiếp tục duy trì những sinh hoạt kiểu này theo lối tư duy cũ. Những cuộc hội thảo gọi là “khoa học” về kiến trúc được tổ chức thời gian qua, vẫn thường được triển khai theo lối tư duy này, khi nhìn vào cách đặt vấn đề, cách tổ chức, có thể thấy, nó có vẻ như là một cuộc vận động dư luận cho một mục đích nào đó, hơn là nhằm phát hiện và giải quyết các vấn đề học thuật, cái mà Hội thảo “Những vấn đề của nền kiến trúc Việt Nam đương đại” do Hội KTSVN tổ chức vừa qua đã cố gắng tìm cách thoát ra, để tạo được những tư duy cởi mở hơn trong cách tiếp cận cùng một vấn đề. Thiết nghĩ, cùng một số tiền bỏ ra cho các cuộc hội thảo như thế hàng năm, nếu tập trung đầu tư cho một vài chuyên gia giỏi, tổ chức họ thành một bộ máy với các điều kiện làm việc phù hợp… mọi chuyện có lẽ sẽ hiệu quả hơn. Sẽ không giải quyết được vấn đề nếu không đào xới vào tận nền tảng-cơ sở tồn tại, các yếu tố chi phối sự vận động và phát triển-của cả nền văn hóa kiến trúc. Như thế, có thể sẽ phải chấp nhận cả sự phê phán. Và sự chấp nhận này, không gì khác hơn, là tạo ra một môi trường dân chủ hơn nữa cho phê bình, và đây là điều cần để có thể bắt tay vào tạo dựng những cơ sở lý luận vững chắc cho phê bình.
Trong bất cứ thời đại nào, dân tộc nào cũng như con người nào, tư duy lý luận bao giờ cũng chỉ là năng lực tiềm ẩn. Muốn để cho đặc tính ấy chuyển thành tư duy lý luận thực sự cần phải có những điều kiện đảm bảo cho nó. Thứ nhất: Tư duy lý luận phải được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm (bên trong và bên ngoài). Không có kinh nghiệm thì không có sự khám phá thực sự về những quy luật tất yếu, nội tại của sự vật, hịên tượng. Xuất phát từ kinh nghiệm và trên cơ sở kinh nghiệm mà tư duy con người khái quát hoá, trung gian hoá, trừu tượng hoá và trở thành tư duy lý luận. Trong kiến trúc điều này càng trở nên tối cần thiết, nó lý giải làm sao người ta có thể trở thành thần đồng trong nhiều lĩnh vực nghệ thụât nhưng với kiến trúc thì không. Thứ hai: Phải xây dựng giả thuyết và sử dụng giả thuyết trong quá trình hình thành tư duy lý luận. Nó có thể đúng, sai và xuất hiện với tư cách là những ý kiến cơ bản. Nhìn chung, chúng chưa được kiểm tra, thậm chí còn mâu thuẫn với những bằng cứ thực nghiệm. Nhưng giả thuyết có khả năng gợi mở vấn đề và tạo ra những điều kiện để diễn dịch trong lĩnh vực tri thức đó và chúng chứa đựng những hệ quả tất yếu. Có cảm giác là chúng ta vẫn sợ sai khi quá dè dặt, quá thận trọng mỗi khi bắt buộc phải đưa ra một nhận định, một kết luận nào đó về kiến trúc. Trong khi đối với khoa học thì phương pháp thử và sai vẫn là phương pháp được sử dụng thường xuyên và tỏ ra hịêu nghiệm. Thứ ba: Tư duy lý luận phải được gắn liền với sự phát triển của khoa học, mà đối với kiến trúc đó là khoa học của công nghệ và vật liệu trong xây dựng. Việc gắn với sự phát triển của khoa học sẽ giúp cho tư duy nắm được các mối liên hệ bên trong của các sự vật, hiện tượng. Các thành tựu của khoa học sẽ đưa lại những cơ sở khách quan, những kết luận chung cho tư duy lý luận. Hơn thế, sự phát triển của khoa học cùng những phát minh mới trong công nghệ và vật liệu có thể dẫn đến sự mất đi của một số khuynh hướng kiến trúc cũ và đồng thời cũng làm xuất hiện thêm những khuynh hướng mới. Thứ tư: tư duy lý luận phải không tách rời thực tiễn, phải có “bà đỡ” là thực tiễn. Vì thực tiễn là mảnh đất mà từ đó những vấn đề lý luận được rút ra, rồi dần dần tạo thành hệ thống những luận điểm gắn bó với nhau một cách chặt chẽ và làm nên nội dung của tư duy lý luận. Cuối cùng: Muốn tăng cường tư duy lý luận, phải có sự nghiên cứu nghiêm túc lịch sử mà đối với kiến trúc đó là lịch sử dài lâu và muôn hình muôn vẻ của kiến trúc. Lịch sử bắt đầu từ đâu, kiến trúc bắt đầu từ đó, nên việc nghiên cứu lịch sử kiến trúc sẽ giúp cho chúng ta thấy được lôgic của tư duy sáng tạo, con đường đi của kiến trúc, cách thức, phương thức biểu hiện, cùng những điều kiện hình thành của kiến trúc.
Hẳn nhiên, so với sáng tác kiến trúc thì lý luận kiến trúc gần với cực khoa học hơn là cực nghệ thuật. Bởi thế, nó thường chìm ẩn và lặng lẽ. Chỉ trong những thời điểm nào đó, khi hệ giá trị thẩm mỹ hiện hành có “vấn đề”, sáng tác kiến trúc dẫm chân tại chỗ, chưa đáp ứng được sự đòi hỏi của xã hội, của thời đại, phê bình kiến trúc lúng túng, thì lý luận kiến trúc nổi lên bình diện thứ nhất, thực thi vai trò quan trọng của nó. Lý luận kiến trúc lúc này có nhiệm vụ mở đường cho sáng tác kiến trúc và phê bình kiến trúc, đặc biệt trong việc kiếm tìm và xác lập một hệ giá trị thẩm mỹ mới. Thiết nghĩ, sáng tác kiến trúc và phê bình kiến trúc của Việt Nam hiện nay dường như đang đứng trước một tình trạng như vậy. Nhưng hình như lý luận kiến trúc của ta chưa làm được vai trò đột phá, mở đường đó. Có nhiều nguyên nhân. Nhưng có lẽ nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém và lạc hậu của lý lụân kiến trúc trong nước. Bởi vậy, việc làm cấp thiết hiện nay là phải hiện đại hoá từng bước lý luận kiến trúc Việt Nam, để nó có thể đóng vai trò đòn bẩy của mình. Có thể có nhiều nguồn để hiện đại hoá lý luận kiến trúc: từ thực tiễn sáng tác kiến trúc được nắm bắt, nhận thức và khái quát lên; từ tiếp thu lý luận kiến trúc của nước ngoài. Nhưng có lẽ trong điều kiện hiện nay, con đường tiếp thu lý luận kiến trúc của nước ngoài hẳn là khả thi hơn cả. Thành tựu lý luận kiến trúc phương Tây đã được đặt nền móng từ rất lâu đời có cả chiều rộng lẫn chiều sâu, và xét cho cùng, đó là thành tựu của thế giới, của nhân loại ở cái phần phổ quát của nó. Có cái của phương Tây hôm nay sẽ là cái của chúng ta ngày mai và ngược lại. Để có một thực tế sáng tạo kiến trúc phong phú và sâu sắc hơn, thiết nghĩ, lý luận kiến trúc Việt Nam không thể ngồi chờ, mà phải đi trước một bước. Tiếp thu lý luận kiến trúc thế giới chính là bước đi cái bước ấy. Vấn đề còn lại là đi như thế nào?
Trước mắt để rút ngắn quãng đường, chúng ta có thể vừa tiếp thu tuần tự vừa tiếp thu đồng thời. Tuần tự bởi lẽ trong khoa học lý luận nói chung và lý luận kiến trúc nói riêng thế giới đã trải qua những chặng đường phát triển khác nhau, thậm chí phủ định nhau, nhưng bao giờ cũng vẫn có sự kế thừa nhau. Tiếp thu tuần tự, tuy chậm mà chắc và quan trọng hơn đó là tiếp thu có hệ thống, tiền đề của tiếp thu sáng tạo. Nhưng chúng ta cũng không thể đủng đỉnh, bởi thế giới không đứng chờ, nó vẫn đi và đi với một gia tốc ngày càng lớn hơn. Vì thế, phải tiếp thu đồng thời (ở ta vẫn gọi là đón đầu), tức tiếp thu những gì đang xảy ra, để cập nhật và quan trọng hơn, cập thế giới. Từ điểm nhìn hôm nay nhìn cái đã qua dễ khiến chúng ta lựa chọn đúng cái gì nên bỏ, cái gì nên tiếp nhận. Người tiếp nhận cần lần ngược trở lại gốc vấn đề, từ lý thuyết văn hoá, triết học tới lý thuyết kiến trúc để hiểu lý thuyết đó một cách sâu sắc hơn, tránh tình trạng hớt ngọn một cách giản đơn. Thành công của những người tiếp thu lý luận kiến trúc nước ngoài đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào sự đi sâu, đi xa trong chuyến hành hương về nguồn này của cá nhân họ bấy nhiêu. Và điều quan trọng nữa là học phải đi đôi với hành. Người làm nghề không thể cứ lý thuyết suông được, thực tế cũng không đợi chúng ta. Không thể bắt các KTS “học, học nữa, học mãi” lý luận kiến trúc, mà phải tạo môi trường để vận dụng nó vào xử lý những vấn đề cụ thể của nền kiến trúc Việt Nam. Vì lý thuyết thì không bao giờ ôm trọn hết, thực tế luôn luôn nảy sinh những vấn đề mới, từ đó lại xuất hiện nhu cầu học tiếp để mà hành. Và chính trong quá trình này, thực tế kiến trúc Việt Nam, do những đặc thù của nó, rất có thể sẽ chỉ ra được một lý lụân nào đó chưa đúng, hoặc chỉ đúng với trường hợp phương Tây chẳng hạn. Từ đó, các KTS Việt Nam có thể có những bổ sung lý luận làm cho nó trở thành một lý thuyết hoàn chỉnh, có giá trị phổ quát. Như vậy, để có sáng tạo lý lụân, ngoài việc tiếp thu có hệ thống, tiếp thu có vận dụng vào thực tế kiến trúc Việt Nam, tiếp thu theo tinh thần đối thoại có phê phán, còn cần phải tiếp thu trên cơ sở có một căn bản văn hoá chuyên sâu. Trước hết là văn hoá Việt Nam và sau đó là một số nền văn hoá lớn trên thế giới. Nhưng vốn tri thức văn hoá này phải được nhìn nhận, xử lý bằng những quan điểm của văn hoá học. Kiến trúc xưa nay vẫn bị xem xét một cách biệt lập. Thực ra nó nằm trong một cấu trúc bao hàm nó là văn hoá, và văn hoá lại nằm trong cấu trúc xã hội.
Cuối cùng, để cho chuyên ngành lý luận kiến trúc Việt Nam phát triển ngang tầm với thế giới, thiết nghĩ, trước mắt cần phải xây dựng cho được một đội ngũ chuyên gia, mà hiện tại chúng ta rất thiếu, đó là chuyên gia lý luận kiến trúc nước ngoài. Đồng thời sớm lên kế hoạch dịch, xuất bản rộng rãi những tác phẩm kinh điển. Người làm nghề không thể không có kinh điển và tổ sư. Rồi những sách kinh điển đó từ chỗ là công cụ của một số người sẽ vượt rào ra với đông đảo bạn đọc. Để dịch và xuất bản được những tác phẩm không ăn khách đó, thì cần phải có tài trợ. Trước hết Hội Kiến trúc sư Việt Nam với chức năng hoạt động của mình có thể tìm kiếm sự tài trợ từ phía Chính phủ, để thông qua các chương trình dịch thụât do mình bảo trợ, tổ chức thực hịên các đề tài khoa học cấp nhà nước, thành lập NXB Kiến trúc v.v. để từ đó tiến hành sớm việc biên soạn những bộ giáo trình mới, những bộ sách tham khảo mới cập nhật và cập thế giới hơn để phổ cập cho sinh viên, các KTS và những người có quan tâm đến loại hình nghệ thụât này...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét